Giá nhập khẩu mặt hàng này đã giảm hơn 66% so với cùng kỳ.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 1/2024 Việt Nam nhập khẩu 1,49 triệu tấn sắt thép, tương đương 1,06 tỷ USD, tăng 27,3% về lượng, tăng 22,3% về kim ngạch so với tháng 12/2023; còn so với tháng 1/2023 thì tăng 151,2% về khối lượng, tăng 101,6% về kim ngạch.
Giá nhập khẩu trong tháng 1/2024 đạt 711,9 USD/tấn, giảm 3,9% so với tháng 12/2023, giảm 19,7% so với tháng 1/2023.
Trung Quốc đứng đầu về thị trường cung cấp sắt thép cho Việt Nam, chiếm 67,6% trong tổng lượng và chiếm 60% trong tổng kim ngạch, đạt gần 1,01 triệu tấn, tương đương gần 635,66 triệu USD, giá trung bình 631,5 USD/tấn, tăng 25,7% về lượng, tăng 24% về kim ngạch nhưng giảm 1,4% về giá so với tháng 12/2023; so với tháng 1/2023 thì tăng 376,4% về lượng, tăng 247% về kim ngạch nhưng giảm 27,2% về giá.
Indonesia là thị trường đứng thứ 2, chiếm trên 4,4% trong tổng lượng và chiếm 9,7% trong tổng kim ngạch sắt thép nhập khẩu của cả nước, đạt 65.140 tấn, tương đương gần 102,63 triệu USD, giá trung bình 1.575 USD/tấn, tăng 14,3% về lượng, tăng 7,7% về kim ngạch nhưng giảm 5,8% về giá so với tháng 12/2023; so với tháng 1/2023 thì giảm 19,5% về lượng, giảm 7,5% về kim ngạch nhưng tăng 14,8% về giá.
Thị trường Nhật Bản đứng thứ 3 đạt 135.841 tấn, tương đương 94,44 triệu USD, giá 695,2 USD/tấn, tăng 7% về lượng, tăng 2% về kim ngạch nhưng giảm 4,6% về giá so với tháng 12/2023; tăng 28,5% về lượng, tăng 23,2% kim ngạch nhưng giảm 4% về giá so với tháng 1/2023, chiếm 9% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước.
Nhập khẩu từ các thị trường FTA RCEP 1,31 triệu tấn, tương đương 934,22 triệu USD, tăng 20,8% về lượng, tăng 17% kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
